Home

Các Thành Tố Vận Động Bên Trong Dòng Thị Trường

Minh Triết06 Thg 07 2020

ĐÀ ĐẨY:

Là lực đẩy tới, nó là hướng đi của áp lực tổng hợp của thị trường. Thông qua đà đẩy, ta có thể cảm nhận sự chuyển hướng hay định hướng sắp tới của thị trường. Hay theo cách nói toán học thì vector xu hướng thị trường gồm có cường lực (cường độ khối lượng và áp lực giá) và hướng đi (đà đẩy). 

Đà đẩy thể hiện dòng tư tưởng, cảm xúc tổng hợp của đám đông đang chảy về hướng nào, khả năng thu hút của nó lên những ai đang tham gia thị trường và nhờ biểu hiện của nó, thị trường sẽ nhận ra và điều chỉnh lại chính nó. 

DAO ĐỘNG:

Là một thành tố quan trọng khác trong qui luật vận động của thị trường. Thị trường không bao giờ biến đổi theo một đường thẳng mà luôn có sự tiến thoái, co giật. Có khi tại vùng giá này thì thị trường diễn biến êm ả, có khi lại cuộn xoáy ở vùng giá khác. 

Dao động thể hiện mức độ đối kháng của các bên đối lập đang đánh giá, phán xét thị trường theo ý họ. Nó là động lực làm thay đổi hay củng cố hướng đi của thị trường. Sự đối kháng với hướng đi của thị trường luôn tồn tại theo thời gian, lúc mạnh lúc yếu. Nó cản trở đà tăng giảm của thị trường nhưng cũng góp phần thúc đẩy đà tăng giảm của thị trường sau đó. 

Có những vùng giá mà ở đó sự đối kháng trở lên bất thường, rất mạnh mẽ mà ta gọi là vùng trở lực (vùng cản, vùng cung/cầu). Trở lực tùy sức mạnh, có thể làm thay đổi áp lực thị trường, thay đổi hướng đi hiện tại của thị trường từ mức độ suy yếu sang cân bằng (hướng đi ngang) hay đảo chiều. Trở lực xuất hiện càng mạnh tại những vùng giá mà càng nhiều người đặt niềm tin vào đó hay nói cách khác là cố chấp vào đó, tạo ra những vùng xoáy không rõ hướng đi, rủi ro cao. Sự cố chấp ở đây có nhiều dạng khác nhau, từ dạng có ý thức đến dạng không ý thức, từ lý trí đến cảm xúc. 

Thí dụ như một trader có thể dựa vào lý do kinh tế, chính trị,... để quyết định một vùng giá anh ta sẽ mua bán, một trader khác có thể tin vào ai đó để mua bán; người khác có thể mua bán do bị ám ảnh bởi một ảo tưởng hay một cảm xúc nào đó (cay cú, phấn khích...). Khi số lượng người cố chấp vào một vùng giá nhiều và mức độ cố chấp càng chặt chẽ thì trở lực này có thể gây đảo chiều hướng đi của thị trường.

Ngược lại, nếu trở lực này bị vượt qua thì sức mạnh thị trường sẽ gia tăng mạnh mẽ do đám đông hoang mang sợ hãi phải bỏ chạy theo hướng ngược lại. Cũng lưu ý là “số lượng người” ở đây mang ý nghĩa tượng trưng, bởi vì giao dịch của một tay to có thể gây ảnh hưởng tương đương với giao dịch của rất nhiều trader nhỏ lẻ. 

Ngoài ra, các hệ thống giao dịch tự động mua bán liên tục với tần suất cao (high frequency trading) cũng dựa vào sự biến động giá để vận hành, tạo thanh khoản và quán tính của thị trường. Các trở lực chúng tạo ra tuân theo những qui luật đã được lập trình nên phần nào mang tính ổn định và thụ động. Nhìn sâu hơn vào trở lực tại một vùng giá, ta thấy ra các dạng khác nhau của thị trường. 

Trở lực có thể thoạt nhìn yếu ớt, kéo dài từ từ hoặc cũng có thể mạnh mẽ, chớp nhoáng. Nó cũng có thể pha trộn giữa hai dạng trên. Cách thức phản ứng của thị trường cho thấy mức độ bám chấp và buông tay của các bên đối lập. Ta có thể cảm nhận phản ứng thị trường qua thái độ vội vã hay nghi ngờ tại vùng giá đang quan sát bởi đám đông bị tác động của lòng tham và nỗi sợ. 

Tùy mức độ trở lực trong bối cảnh đang xét mà nó có thể gây đảo ngược hoặc làm dao động niềm tin của những người đang đứng nắm giữ vị thế hay đứng ngoài, tác động lên hướng đi tiếp theo của thị trường. Tất cả các thành tố trên biến đổi liên tục không bao giờ lập lại y như cũ, mà theo cách nói của Mark Douglas thì mỗi thời khắc của thị trường là duy nhất. 

Thế nên, kỹ thuật minh sát giá không phải cách dự đoán thị trường dựa vào quan điểm lịch sử sẽ lập lại qua tính toán các dữ liệu mà trọng tâm là quan sát thị trường như nó đang là và phán đoán các hành vi tương tự sẽ xảy ra. 

Giống như một dòng sông chuyển động luôn có sự thay đổi về dòng nước theo thời gian, thị trường luôn có số lượng người tham gia biến đổi theo thời gian cùng với mọi thay đổi về suy nghĩ cảm xúc của họ. Bạn không thể kỳ vọng những gì bạn đã chứng kiến trong đợt biến động giá trước đó sẽ xảy ra y hệt trong đợt biến động này nhưng các thói quen phản ứng xuất phát từ bản ngã con người là tương tự nhau.

_______________________________________________

GIÁC NGỘ CỦA DZ

Sự chấp trước của các trader sẽ tạo nên những đặc tính tâm lý của mô hình giá, Ví dụ khi mà hầu hết các trader đều chấp trước vào các mức Kháng Cự/Hỗ Trợ (Đỉnh/Đáy) thì xảy ra tình trạng chung là đứng ngoài chờ đợi dẫn đến sự chững lại của các mức giao dịch, khi quan sát thấy giá thay đổi theo một hướng nhất định nào đó thì kích hoạt những ý thức đang chực chờ sẵn của các trader, từ đó tạo ra dòng chảy mới của đường giá.

Nếu hầu hết các trader đều tin rằng giá đi tới mức kháng cự thì sẽ có khả năng cao là đảo chiều hoặc breakout cực mạnh. Việc giao dịch tại các vùng Kháng cự này sẽ rất rủi ro chính vì thế cách tốt nhất là ngồi ngoài để quan sát (Ngọa sơn quan hổ đấu). Khi giá tới mức kháng cự và đảo chiều làm kích thích các trader đang chực chờ ở ngoài nhảy vào ==> Tạo nên lượng FOMO, càng FOMO thì giá tất yếu phải tăng theo nguyên tắc đấu giá khớp lệnh.

Nhìn sâu hơn vào trở lực tại một vùng giá, ta thấy ra các dạng khác nhau của thị trường. Trở lực có thể thoạt nhìn yếu ớt, kéo dài từ từ hoặc cũng có thể mạnh mẽ, chớp nhoáng. Cách thức phản ứng của thị trường cho thấy mức độ bám chấpbuông tay của các bên đối lập. Ta có thể cảm nhận phản ứng thị trường qua thái độ vội vã hay nghi ngờ tại vùng giá đang quan sát bởi đám đông bị tác động của lòng tham và nỗi sợ. Tùy mức độ trở lực trong bối cảnh đang xét mà nó có thể gây đảo ngược hoặc làm dao động niềm tin của những người đang đứng nắm giữ vị thế hay đứng ngoài, tác động lên hướng đi tiếp theo của thị trường.

==> CÁC THÓI QUEN PHẢN ỨNG XUẤT PHÁT TỪ BẢN NGÃ CON NGƯỜI LÀ TƯƠNG TỰ NHAU

_DZ_

Minh TriếtNgười dùng tại Publish

back to top